
MỐI TÌNH THƠ NGUYỄN BÍNH – ANH ĐÀO
Nguyễn Bính (1918-1966) thuở nhỏ tên là Nguyễn Trọng Bính, quê xã Cộng Hòa, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định là nhà thơ viết về thôn quê rất đặc sắc, lại có máu phiêu lưu, thích thú giang hồ vặt .
Còn nhà thơ Anh Đào tên thật là Đào Tiến Đạt, thường gọi là Đắc, sinh năm 1914 tại Hà Nội, xuất thân trong một gia đình Nho giáo nhưng theo Tây học, vào ngành Hỏa xa năm 1937, bấy giờ đang làm trưởng ga thôn Kép, tỉnh Bắc Giang (1)
Dạo ấy là vào mùa thu năm 1940, thời kỳ thơ mới đang thịnh hành . Nguyễn Bính và Anh Đào biết tiếng nhau đã lâu, qúi mến nhau vì tài thơ nhưng chưa một lần gặp mặt . Anh Đào thường viết thư mời Nguyễn Bính lên kép chơi nhưng Bính chưa có dip.
Thôn Kép bấy giờ chỉ là một thị trấn nhỏ, vắng vẻ cô tịch, khi chiều xuống rất buồn nên nhà thơ Phi Tâm Yến – tác giả tập thơ “Nàng Hồ Điệp” – đã viết :
Ở đây người kép tôi đơn,
Muốn vui cho cái u buồn tản tan .
Một buổi chiều chớm thu, Anh Đào đứng ở sân ga đón chuyến tàu từ Hà Nội ngược Lạng Sơn, đang ngừng ở ga Kép . Bỗng từ trên toa hạng tư bước xuống một chàng thanh niên trạc ngoài hai mươi tuổi, da ngăm đen, vận âu phục trắng và nhàu nát, chân đi đôi giày tàng, tay cầm cái cặp da đã cũ . Chàng thanh niên ấy tiến đến chỗ Anh Đào đang đứng và hỏi :
- Thưa ông, làm ơn cho tôi hỏi ông Anh Đào, tức Đắc .
- Anh Đào chính là tôi, mà Đắc cũng là tôi, thưa ông .
- Vậy sao ? Còn tôi là Nguyễn Bính .
Hai người mừng rỡ siết tay nhau thật chặt như đôi bạn thân lâu ngày mới gặp lại và Anh Đào mời Bính vào nhà, một gian phòng khá rộng dành cho trưởng ga .
Bấy giờ Nguyễn Bính đã xuất bản tập thơ Lỡ bước sang ngang, còn Anh Đào cũng đã in tập thơ Mấy nét mơ (1939), tập thơ đã nhận được bằng khen của Tự Lực văn đoàn . Cả hai chàng trai đều hãy còn độc thân .
Buổi tối hôm đó, Anh Đào làm một bữa tiệc nhỏ mừng bạn thơ để hai người cùng uống rượu ngâm thơ cho thỏa thích . Thôi thì rượu vào thơ ra, mãi đến qúa 11 giờ đêm mới tan tiệc .
Đêm sau và đêm sau nữa, đêm nào cũng có thơ và rượu, kéo dài đến ba bốn tiếng đồng hồ . Đôi bạn đều là thi sĩ và cũng từng bị tình phụ nên rất dễ cảm thông và dễ thân nhau .
Dạo ấy Anh Đào yêu một cô gái rất xinh đẹp ở Yên Thành, hai người đã từng thề non, hẹn biển , không ngờ gia đình nàng bội ước nên Anh Đào rất đau khổ, bèn xuất bản tập thơ Mấy nét mơ để giãi bày tâm sự của mình :
Tôi in cuốn “Mấy nét mơ” ,
Viết bằng xương máu trên tờ lìa tan .
Bán lòng, bán tiếng than van ,
Phơi câu tâm sự khắp gian chợ đời .
Có ai là kẻ câm lời
Khi trên tay mất một người như em ?…
Còn Nguyễn Bính yêu một nàng thơ có danh trên thi đàn, từng được giải thưởng về thơ của Tự Lực văn đoàn, Bính đã làm nhiều thơ tặng nàng, đáng kể nhất là bài Vẩn vơ (2)
Xa gởi nàng thơ áo trắng sông Thương .
Đã quyết không … không được một ngày ,
Rồi yêu mất cả buổi chiều nay .
Chiều nay bướm trắng ra nhiều qúa ,
Không biết là mưa hay nắng đây ?
Lâu nay tôi thấy ở lòng tôi
Như có tơ vương đến một người .
Người ấy … nhưng mà tôi chả nói ,
Tôi đành “ngậm miệng” nữa mà thôi ! …
Nàng thơ ấy viết “Đọc được hai đoạn, tôi bâng khuâng đặt tờ báo xuống bàn cho lòng được trấn tỉnh . Chiều ấy tôi bỗng thấy nhớ anh tha thiết , hay đúng hơn, nhớ thơ anh, thương lời tâm sự của anh . Anh từng gọi tôi là công chúa của thơ anh, khiến tôi vừa thích thú, vừa tự hào …” (3) .
Không ngờ mối tình đẹp như thế lại tan vỡ . Theo nữ sĩ thì hai người không hợp vì nàng thấy thơ và người khác nhau xa qúa, nhưng theo Bính thì vì không “môn đăng hộ đối” bởi thân phụ của nàng là một ông phán hồi hưu, còn nhà Bính rất nghèo và bố Bính chỉ là một ông đồ nho thanh bạch :
Thầy tôi dạy học chữ nho,
Dạy dăm ba đứa học trò loanh quanh .
Có gì tiếng cả nhà thanh,
Cơm an đủ bữa, áo lành đủ thay …
(Nhà tôi)
Và nhà Bính chỉ trồng dâu nuôi tằm, chẳng kiếm được bao nhiêu, cho nên :
Con tằm được mấy tiền tơ,
Chao ôi mà ước, mà mơ lấy nàng !
Một buổi sáng, đôi bạn Nguyễn Bính và Anh Đào dắt nhau lên đồi chơi . Đồi ở ngay sau ga, ven đường dứa dại mọc đầy . Bính bẻ một chiếc gai, đề vào lá dứa mấy vầng thơ :
Có ai đi chắp cánh hoa rơi,
Bắt bóng chim xa tận cuối trời .
Có lẽ ngày mai đò ngược sớm,
Thôi nàng ở lại để quên tôi .
Thơ đề buổi sáng thì buổi chiều đã thấy có thơ ai đề bên cạnh :
Hỡi ai lá dứa đề thơ
Đường đời hai ngã bao giờ gặp nhau ?
Nói làm chi tiếng nghẹn ngào,
Thuyền xuôi hay ngược chuyện đâu riêng mình .
Ngỡ ngàng một cánh hoa trinh .
Giọng thơ và nét chữ rõ ràng là của nữ giới, nhưng bàn tay nào đã đề thơ ? Hoàn toàn bí mật ! Ở Kép bấy giờ có nhiều nhà thơ nổi tiếng : Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Vũ Hoàng Chương, Phi Tâm Yến, Trần Nhân Cư, Bàng Trọng Loan, Quỳnh Dao … Nhất là Quỳnh Dao với những câu thơ được Hoài Thanh khen trong Thi nhân Việt Nam (4) :
Cầu trắng phau phau màu ánh sáng,
Mây xanh lánh lánh cánh chim chiều .
Một nàng tôn nữ cười trong nón,
Sông mở lòng ra đón nón yêu .
Nhưng chẳng biết là thơ của ai mà cũng chẳng ai nhận là tác giả .
Lúc mới lên Kép Bính nói với Anh Đào là chỉ có thể ở lại hai ngày bởi còn nhiều công việc đang đợi Bính ở Hà Nội, thế mà hai tuần đã trôi qua, vì thơ rượu đã níu chân Bính lại . Trong một bữa rượu Bính cao hứng rút trong cặp ra một cuốn “Lỡ bước sang ngang” và đề tặng như sau :
Còn đêm nay nữa mai đi,
Rượu say rồi, biết lấy gì tặng nhau ?
Có đây một tập thơ đầu,
Mùi hương thôn dã, cái sầu vô biên .
Tôi sang “lỡ một chuyến thuyền” (5),
Anh “mơ mấy nét” (6) vì duyên không tròn .
Anh cũng buồn, tôi cũng buồn,
Anh còn ở Kép, tôi còn lên chơi .
Hồn tôi đã ở đây rồi,
Thân tôi xin hẹn tháng mười lại lên .
Tuy nói là “mai đi” nhưng Bính còn trùng trình thêm mấy hôm nữa, rồi ngày chia tay cũng đến .
Đêm cuối cùng ở Kép, bên ngoài trời mưa dầm rả rích, trong nhà Nguyễn Bính và Anh Đào ngồi đối ẩm ngâm thơ bên chiếc đèn dầu hỏa tù mù tỏa khói . Anh Đào ngỏ ý muốn mỗi người làm một bài thơ ngay trên chiếu rượu tặng nhau để làm kỷ niệm buổi chia tay và được Bính tán thành . Mỗi người cứ làm được hai câu hay bốn câu lại ngâm lên cho nhau nghe rồi tiếp tục cho đến hết bài . Vì cả hai đều là kẻ chung tình mà bị tình phụ nên họ đồng ý chọn nhan đề bài thơ là “Hai cái chung tình” . Chẳng bao lâu, Bính đã làm xong bài thơ của mình, ngâm lên cho Anh Đào nghe và cũng để chính mình thưởng thức, chẳng khác nào lòng đang buồn mà muốn nghe khúc “Nam ai” . Giọng Bính trầm trầm, ấm áp vang lên giữa đêm mưa vắng lạnh :
Bữa nay trở lạnh rồi đây,
Tôi còn ở lại trên này với anh .
Bốn bề rừng rậm non xanh,
Bơ vơ hai cái chung tình gặp nhau .
Chúng mình còn có gì đâu,
Sống trong oan khổ, đi vào nhớ thương .
Ruột tằm đứt cả tơ vương,
Ái ân sang đến nửa đường lại thôi .
* * *
Rượu còn uống nữa Anh ơi !
Uống cho say nữa, say rồi thương nhau .
Mưa chừng mưa suốt canh thâu,
Đêm nay mình khóc phải đâu xa nhà .
Trời xanh còn khóc nữa là …
Nhớ nhà ít, nhớ người ta thì nhiều .
Người ta nông nổi bao nhiêu,
Người ta đã thế, mình yêu làm gì ?
Ngày mai là buổi phân kỳ,
Ngày mai anh ở, tôi đi một mình .
* * *
Rượu còn uống nữa đi anh !
Uống cho hai cái chung tình mê tơi .
Ai làm cho rẽ duyên tôi ?
Ai làm cho rẽ duyên đôi chúng mình ?
Bóng tôi với lại bóng anh,
Cả hai bóng ấy đổ thành bóng đơn .
* * *
Càng say, càng nghĩ, càng buồn,
Hãy cho tôi tắt tiếng đờn ở đây .
Men nồng ướt cả muôn dây,
Hỏi rằng say rượu hay say chung tình ?
Vừa nghe Anh Đào vừa gật gù tán thưởng rồi cao giọng ngâm bài thơ của mình làm tặng Bính :
Buổi chiều hôm ấy hơi buồn,
Tàu về chở một tâm hồn bơ vơ .
Người tan các ngã hững hờ,
Mà tâm hồn ấy bây giờ đang say .
Ngồi trên chiếu rượu đêm nay,
Mái xanh tóc rối chuỗi ngày thương đau .
Không quen nhau, chỉ biết nhau,
Phơi lòng để rợn hai màu tình si .
Trong ta còn có những gì ?
Họa chăng còn những cái … đi không về !
* * *
Ngang song sương gió não nề,
Mưa đêm trút nước bến thề xa xôi .
Bến thề xa lắm anh ơi !
Mà thuyền yêu đắm giữa nơi sóng lòng .
Đi làm gì để nhớ mong,
Để oan khổ cứ nằm trong chung tình .
Trời xui hai đứa chúng mình,
Cứ đem thơ khóc mãi tình vô duyên .
Rượu đào uống nữa cho quên,
Cho say khướt cả cái duyên không về !
* * *
Mười hai bến nước anh đi
Chiều đơn đơn lắm, dặm về về đâu ?
Thôi nhau để khổ cho nhau,
Trường đình một tiễn, mấy câu xa vời .
Rồi đây hẳn có hai người
Lấy chung tình bọc một đời thơ hương .
* * *
Giấu cho hết hận lên đường,
Che cho kín hết cái gương giang hồ .
Để bao nhiêu lệ đang khô
Ngầm theo tiếng khóc đến bờ Nhớ Nhung .
Hẹn nhau gặp gỡ mùa đông,
Có ngày tôi đứng ngang sông ngóng đò .
Hai bài thơ này cho đến nay vẫn chưa hề được xuất bản, chỉ mới đăng một lần trên giai phẩm Hoàng Hoa .
Lần cuối cùng Anh Đào gặp Nguyễn Bính là một ngày chớm đông rét mướt mướt ở Hà Nội (”Hẹn nhau gặp gỡ mùa đông” mà !) Anh Đào đến thăm Bính trong căn gác nhỏ thụt sâu trong ngõ Khâm Thiên thì thấy Bính đang nằm co ro trên sàn trên chiếc mền đơn, mặt xám ngắt vì rét . Gần đó là Thâm Tâm, cổ quàng khăn, ngồi xổm trên ghế đẩu cắm cúi viết và Trần Huyền Trân co ro cạnh Bính, miệng phì phà thuốc lá . Thấy Anh Đào tới mọi người đều vồn vã đón chào, nhưng không ai rời khỏi chỗ mình, có lẽ vì rét qúa .
Rồi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ (19.12.1946), phố Kép đã trở thành bình địa . Mấy năm sau, khi Anh Đào trở về thăm thì cảnh vật hoang tàn, ga Kép đã bị san phẳng, chỉ còn những cây dứa dại mọc san sát trên đồi . Anh Đào ngậm ngùi đứng vơ vẩn bên đường sắt, lòng bâng khuâng nhớ bạn, không biết Nguyễn Bính đã lưu lạc đến tận phương trời nào …
Viết theo tư liệu của Anh Đào
(Giai phẩm Hoàng Hoa, tháng 9.1952)
……………………………..
(1) Vào khoảng năm 1952, Anh Đào là chủ nhiệm kiêm chủ bút tuần báo Nhân Loại ở Sài Gòn
(2,3) Trích trong cuốn Từ bến sông thương, hồi ký của AT. (Nhà xuất bản văn học Hà Nội 1986) Chuyện tình có thật này đã được nữ sĩ kể lại rành mạch trong hồi ký, không cần phải giữ bí mật nữa sau khi chồng của nữ sĩ và Nguyễn Bính đều đã qua đời . Hiện nay nữ sĩ đã 85 tuổi, vẫn sống ở Hà Nội .
(4) Thi nhân Việt Nam (Nhà xuất bản Hoa Tiên Sài Gòn 1967, trang 180) trong phần viết về Nam Trân .
(5) Tức tập thơ Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính .
(6)Tức tập thơ Mấy nét mơ của Anh Đào .
Nguyễn Bính và “Tỉnh giấc chiêm bao”
Ngày: 18-02-2006
Đề tài: Văn hóa – Nghệ thuật
1. Cuộc đời của Nguyễn Bính
Nguyễn Bính là bút danh của Nguyễn Trọng Bính. Ông sinh năm 1918 (khoảng cuối mùa xuân đầu mùa hạ năm Mậu Ngọ) tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đông Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
 |
Nguyễn Bính – Ảnh của gia đình thi sĩ
|
Gia đình ông thuộc loại nhà nho thanh bần, sinh sống tại vùng đất nổi tiếng đồng chua nước mặn. Thân phụ là cụ Nguyễn Đạo Bình (thường gọi Ông Cả Biền) làm nghề dạy học, tính tình điềm đạm, hiền lành, trọng chữ nghĩa hơn c ủa cải vật chất. Thân mẫu là cụ bà Bùi Thị Miện, đức hạnh và xinh đẹp, thuộc một gia đình khá giả và có lòng yêu nước, ở thôn Vân, xã Đông Đội (nay là xã Minh Tân), cùng huyện. Bà sinh cho chồng được ba người con trai là Trúc Đường Nguyễn Mạnh Phát, Nguyễn Ngọc Thụ và Nguyễn Trọng Bính. Sau khi sinh Nguyễn Bính được đôi ba tháng, bà ra cầu ao rửa chân thì bị rắn độc cắn, mất lúc 24 tuổi. Mấy năm sau, vì cảnh nhà cô quạnh, thân phụ của Nguyễn Bính tái giá với bà Phạm Thị Duyên, rồi sinh thêm được hai con trai và hai con gái.
Tuổi thơ cơ khổ
Sau khi mẹ mất, bà cả Giần, chị ruột của mẹ và là người giàu có, đem ba cháu về cưu mang và cho tiếp tục việc học. Lần này, thầy dạy học chính là anh ruột của mẹ (mà anh em Nguyễn Bính thường gọi là bác), tên là Bùi Trình Khiêm. Cụ Khiêm nổi tiếng hay chữ khắp vùng nhưng thi cử không đỗ. Cụ tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục rồi vào Nam Kỳ định làm báo nhưng bị thực dân Pháp bắt giải về quản thúc ở quê nhà cho tới năm 1945; cụ cũng là thầy học của Trần Huy Liệu. Thời kỳ này Nguyễn Bính bắt đầu tấp tểnh làm thơ và dịch thơ, có bài được bác Khiêm khen hay, nên được nuông chiều. Cùng với việc học chữ nho, Nguyễn Bính vào lớp sơ học trường huyện. Từ năm 1931, ở làng Thiện Vịnh, Nguyễn Bính nổi tiếng thần đồng; được giải nhất trong một cuộc thi hát trống quân đầu xuân ở hội làng. Cậu là người gà thơ cho bên nam đối đáp với bên nữ, cuối cùng, bên nam thắng, dù kẻ gà thơ cho bên nữ là một cụ già 70 tuổi.
Từ quê ra tỉnh
Khoảng năm 1932, Trúc Đường thi đỗ thành chung, vào Hà Đông dạy ở tư thục. Ông mang Nguyễn Bính đi theo, đưa em vào học tiểu học và dạy thêm tiếng Pháp cho em. Ông cũng thường đem em đi khắp các vùng quê để giữ cho mạch thơ của em đưọc chân chất. Đời sống anh em đạm bạc vì lương tháng giáo viên không được bao nhiêu, cá tính của Nguyễn Bính lại vô lo, ham làm thơ hơn học.
Không chịu nổi cánh sống túng thiếu của hai anh em, Nguyễn Bính nghe lời một người bạn học ở thôn Vân rủ lên mạn ngược, vùng Thái Nguyên, dạy học kiếm sống. Nhưng rồi cũng chẳng đủ ăn mà tính nết lại bất định, thích sống rày đây mai đó, Nguyễn Bính lại về Hà Nội, có khi đi bán báo ở phố Hàng Bồ.
Tên Nguyễn Bính bắt đầu xuất hiện và được ngưòi đọc chú ý với bài thơ Cô hái mơ, trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Năm ở Hà Nội vào năm 1936, nhưng tới khi bài thơ Lỡ bước sang ngang đăng cũng trên tờ báo ấy ông mới thật sự nổi tiếng. Năm 1937, ông được Tự Lực Văn Đoàn trao giải khuyến khích với tập thơ Tâm hồn tôi.
Giữa thời buổi thơ mới đang thịnh hành với những lời cổ vũ “theo mới, hoàn toàn theo mới” và những bài thơ chịu ảnh hưởng đậm đà về thể thơ, lối diễn tả lẫn cách đặt câu theo văn phạm Pháp của một số nhà thơ mới, tiếng thơ Nguyễn Bính nổi bật với lời thơ mộc mạc, cảm xúc đơn sơ và thấm thía, thể thơ phần nhiều là lục bát, lấy cảm hứng và hình ảnh từ những sinh hoạt ở nông thôn, những câu hò điệu hát ca dao dân dã, đồng thời chuyên chở được cái ý nhị của dân tộc và tâm tình của cả một thế hệ thanh niên nam nữ buổi giao thời. Các yếu tố ấy tạo cho Nguyễn Bính một chỗ đứng độc đáo trong lòng độc giả và trên thi đàn. Chỉ trong ba năm (1940-1942), ông in liên tiếp 7 tập thơ, trong đó nhan đề của tập Lỡ bước sang ngang (1940) đã gắn trọn đời với tên tuổi của ông.
Nhưng theo Nguyễn Bính, tập thơ đầu tay của ông là Bướm, viết về những cảm xúc và những hoạt cảnh săn bắt bướm lúc ông sống lang thang ở Thái Nguyên, Phú Thọ, Yên Bái, Cao Bằng. Tập thơ trong đó ông tự nhận tiền kiếp của mình là một loài bướm ấy không bao giờ xuất bản; những bài thơ của nó được ông đưa xen kẽ vào các thi phẩm khác.
Trong giai đoạn này, hầu như mỗi tập thơ của Nguyễn Bính đều bắt nguồn từ cảm hứng tình yêu của ông dành cho một người nữ. Tập Tâm hồn tôi gồm những bài trộm nhớ thầm yêu cô Oanh sông Nhuệ. Hương cố nhân là tình yêu của ông dành cho Anh Thơ, tác giả tập thơ Bức tranh quê. Với Nguyễn Thị Tuyên, em gái của Nguyễn Đình Lạp thì ông hoàn thành Người con gái ở lầu hoa. Và còn nhiều hình bóng khác như cô Phùng, đặc biệt với một đào nương tên Dung, sanh với ông một đứa con mà ông ghi lại trong bài Oan nghiệt viết ở Huế năm 1941.
Nguyễn Bính theo như nhà văn Tô Hoài kể: “Con người anh trông lôm lam lắm. Tay chân thô nhám quềnh quàng, lúc nào cũng lừ đừ thủng thỉnh, như ‘ông từ vào đền’, như người thong thả đi giữa làng. Lại lam lũ như người lướt mướt từ đồng sâu mặn lên, dẫu cho anh đương mũ áo chững chạc trên đường phố. Khi nào anh cũng là người của các xứ đồng, của cái diều bay, của dây hoa lý, của mưa thưa, mưa bụi giữa mọi công việc làm ăn vất vả sương nắng.”
Nhưng con người thơ ấy vốn giàu đam mê hơn nghị lực, nhiều mơ mộng hơn thực tế lại sống giữa chốn Hà thành phồn hoa với những cuộc vui hát ả đào thâu đêm và bên bàn đèn thuốc phiện suốt sáng. Tô Hoài kể đi đâu Nguyễn Bính cũng cầm trên tay một hộp sắt tây để lâu lâu lại “ngồi lên, vuốt ve, sắp xếp lại các thứ trong ấy. Đấy là bản thảo những bài thơ của anh và những bức thư tình, một hộp thư tình. Tờ trắng, tờ xanh, vết tay mồ hôi đã về vệt cả. Bao nhiêu thư của một mối tình, của những mối tình của anh, anh xếp chật cái hộp. Có điều chắc chắn đấy là những cái thư cũ, những người ta ở những đâu đâu ấy đã ‘cho rơi’ anh rồi. Chỉ còn lại những lá thư trong hộp. Cơ chừng, mỗi lúc canh tàn rượu tỉnh, lại lôi những của oan trái giời ơi ấy trong cái hộp gối ra.”
Loanh quanh ở Hà thành và là người thơ thèm sống tới tận cùng nhưng không bao giờ nắm bắt được những giá trị trần thế thực dụng, Nguyễn Bính tiêu pha ngày tháng và những khoản nhuận bút thất thường trong những cuộc vui phóng túng, những chuyến giang hồ vặt với các thi hữu, khi Bắc Ninh, khi Hải Phòng. Túi khi rỗng khi vơi mà tay tiêu pha thì vung lên quá trán. Khi làm thơ, ông trân trọng từng câu kỹ lưỡng từng chữ bao nhiêu thì trong cuộc đời, ông sống buông thả bấy nhiêu. Lối sống đó hình như không chỉ của riêng ông mà còn chung cho hầu hết một thế hệ văn thi sĩ tiền chiến ở Hà Nội. Những con người trẻ tuổi tài hoa, bồng bềnh với một tâm thức lãng mạn trong hoàn cảnh bế tắc về sinh kế, mịt mù về chính trị với sự bắt đầu có mặt của người Nhật trên một đất nước đã mất từ lâu vào tay người Pháp.
Lưu lạc phương nam
Phải tìm một lối thoát cho đời mình và cho thơ mình. Sau những ngày lang thang ở mạn ngược và những chuyến giang hồ vặt, Nguyễn Bính tìm đường xuôi nam. Có lẽ chuyến đi Sài gòn đầu tiên của ông diễn ra năm “chàng trai còn trẻ mới hai mươi” mà ông đã ghi lại trong bài thơ “Lá thư về bắc”, gửi người anh họ là nhà văn Bùi Hạnh Cẩn – con trai cụ Bùi Trình Khiêm — được in lại trong tập Lỡ bước sang ngang (1940).
Tới năm 1941, ông lại đi Huế với nhà văn Vũ Trọng Can. Gặp nhà thơ Tế Hanh ở Huế, cả ba trình diễn vở kịch thơ Bóng giai nhân ở Hội trường Acceuil, Dòng Chúa Cứu Thế. Ðã không có mặt hoàng đế Bảo Ðại, hoàng hậu Nam Phương và Khâm sứ Pháp như dự kiến, buổi diễn còn bị thất thu về tài chính, và Nguyễn Bính nằm lại cố đô, thấm thía với mưa dầm xứ Huế. Cơn phấn chấn ngày ra đi nay lụi dần và giọng điệu thơ Nguyễn Bính đã bắt đầu chua cay, khinh bạc.
Sau khi về lại Hà Nội, ông cùng Vũ Trọng Can lại làm một chuyến “hành phương nam” khác, lần này có thêm Tô Hoài. Chuyến thứ ba, có lẽ là chuyến sau cùng. Diễn thuyết, viết báo, rồi lang thang ở Sàigòn một thời gian, ba người bạn chia tay người mỗi ngả. Nguyễn Bính về miền tây.
Khoảng năm 1943, ông ở trọ tại khách sạn nghèo Tân Hưng, Mỹ Tho. Tại đó ông gặp một thanh niên về sau là nhà thơ ca dao cung đình Bảo Ðịnh Giang, người mà thuở đó ông gọi là có “mắt xanh”, đã tiếp đãi ông tận tình. Qua Bảo Ðịnh Giang, ông làm quen và được sự giúp đỡ bởi những người yêu mến thi tài Nguyễn Bính như Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, đặc biệt Bác sĩ Dương Tấn Tươi, từng giúp ông 700 đồng, trong khi tiền ăn cơm tháng thuở đó chỉ tốn 3-4 đồng. Năm 1944, Nguyễn Bính được giải nhất truyện ngắn của tạp chí Thanh Niên Ðông Pháp, với tựa đề “Không đất cắm dùi.”
Từ Mỹ Tho, ông xuống Cần Thơ, ở lại nhà của Ðoàn Trọng Khang. Từ Cần Thơ ông qua Rạch Giá, bụi đời ngủ nóp ở đình thờ Nguyễn Trung Trực. Tại đó, ông quen với nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà, về sau là tác giả tập thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” và là soạn giả cải lương nổi tiếng. Kiên Giang nhờ gia đình giúp đỡ, thuê một cái lều của ông chủ sân banh Rạch Giá, rộng đủ chứa một cái nóp nằm ngủ mà ông mô tả là “Ở nhà hẹp mà hồn trùm vũ trụ!” Có lẽ vào thời gian này, bị mật thám để ý vì những bài thơ dán đầy vách lều, Nguyễn Bính bèn đổi tên thành Nguyễn Bính Thuyết.
Ðầu mùa hạ năm 1944, Nguyễn Bính chia tay với Kiên Giang. Ông vào tiệm Công Yên ở Rạch giá hút suốt một đêm rồi đi Hà Tiên, sống những ngày rất đằm thắm với hai văn thi hữu mà ông xem như anh chị của mình, là Ðông Hồ và Mộng Tuyết. Ðất Hà Tiên giúp Nguyễn Bính làm được nhiều thơ, say sưa bộ truyện Tam Quốc Chí, mộng mơ lãng đãng với thiếu nữ tên Ngọc, cháu của Ðông Hồ, và nhất là khiến ông xa được nàng tiên nâu một thời gian. nhưng rồi những tiếp đãi ân cần đó cũng chẳng giữ chân ông được lâu. May mắn là trong khoảng thời gian này ông kịp sáng tác được truyện thơ Tỳ Bà Truyện, theo thể lục bát, dài 1550 câu, mô phỏng vở tuồng nam hí Tỳ Bà Ký của Cao Minh thời cuối Nguyên đầu Minh của Trung Hoa (thế kỷ 14).
Từ bỏ những ngày tháng mà Mộng Tuyết kể lại là “rất yêu đời, lành mạnh, vui vẻ, sống cuộc đời mẫu mực” ở Hà Tiên, Nguyễn Bính lại về Sàigòn, dù chủ nhân “năn nỉ mãi Bính cũng không ở lại”. Thế là lại lao vào cuộc sống phiêu bạt “bất thường vô định của nhà thơ trác táng đến (có thể) vong khước hình hài” (Mộng Tuyết), Nguyễn Bính khi trọ vùng Chợ Cũ, khi ở Xóm Dừa hay khu Nancy, làm thơ đăng báo và lui tới với các văn nhân thi sĩ thành đô. Thơ ông lại càng thấm đẫm chua cay và chất ngất khinh bạc. Có lúc, ông viết tùy bút dưới bút hiệu Kiều Mộc.
Tham gia kháng chiến
Từ những ngày chưa kết thúc Thế Chiến Hai, Nguyễn Bính đã được móc nối bởi một cán bộ Việt Minh trí thức vận, đồng hương với ông. Tiếng hát Tổng Khởi nghĩa Mùa thu vang lên khắp đất nước rồi tiếp đó là tiếng súng của cuộc kháng chiến trường kỳ, từ chợ Rạch Giá, Nguyễn Bính vào bưng biền tham gia đánh giặc. Thơ ông lúc này chuyển hướng, gần như vè, và được ông sử dụng như một thứ vũ khí động viên nhân dân vùng lên đuổi Pháp.
Tại Rạch Giá, ông lập hội Văn hóa Cứu quốc, và làm Phó chủ tịch Tỉnh bộ Việt Minh. Nhà văn Sơn Nam có nhiều dịp gặp ông, kể lại là các công văn ông phê thường kèm theo một bài thơ dưới ký tên Nguyễn Bính. Sau một nhiệm kỳ Phó chủ tịch, Nguyễn Bính chuyển lên công tác ở Ban văn nghệ Khu 8 tại Ðồng Tháp Mười, làm việc chung với Bảo Ðịnh Giang và nhà văn Ðoàn Giỏi…
Sau vài năm, Nguyễn Bính không sống đời bưng biền nữa nhưng vẫn làm thơ kháng chiến và ở lại vùng giải phóng, dù chính quyền Nguyễn Văn Thinh treo giải thưởng ai đem Nguyễn Bính về thành hoặc tự ý nhà thơ về thành sẽ được thưởng 1.000 đồng bạc Ðông Dương, một số tiền rất lớn vào thời đó. Trong giai đoạn này, ông có một người vợ miền nam, mỹ danh là Hồng Châu, ở bên bờ con kinh xáng Chắc Băng-Thái Bình, cách thị xã Vĩnh Long khoảng ba bốn cây số, trên đường đi Cần Thơ. Bà sanh một con gái tên là Nguyễn Bính Hồng Cầu. Ông còn có một đứa con gái khác tên là Hương Mai. Sau năm 1975, Hồng Cầu có thời làm Tổng biên tập Nhà Xuất Bản Vĩnh Long, nay hình như đã nghỉ hưu.
Lại về đất bắc
Năm 1954, theo qui định của Hiệp định Genève tạm thời chia đôi đất nước trong chỉ hai năm, trong đoàn quân tập kết ra Bắc có Nguyễn Bính. Ông để lại người vợ và hai con ở trong nam.
Nhà thơ tái ngộ đất bắc sau mười ba năm xa cách, với bối rối ngỡ ngàng. Người thân mừng rỡ gặp lại nhà thơ vì từng nghe đồn ông đã chết mấy năm trước. Ðời sống xã hội thay đổi không như mình mộng tưởng, ông ghi lại các cảm xúc đó trong bài thơ “Tỉnh giấc chiêm bao”, mà cho đến nay vẫn chưa được phép xuất hiện trong các tuyển tập thơ Nguyễn Bính.
Năm 1956, ông chủ trương báo Trăm Hoa. Báo ra được mấy số thì đình bản vì không có đủ tiền tự túc mua giấy để in báo, trong khi các báo văn nghệ chính thức của nhà nước thì được mua giấy bao cấp. Và theo quan điểm của chính quyền thời đó thì Nguyễn Bính “đã cho đăng trên tờ báo này một số bài viết (trong đó có vài bài của anh) còn mang tính mơ hồ trong lập trường tư tưởng.”
Từ sau Trăm Hoa và thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm cho tới năm 1964, tác phẩm của Nguyễn Bính hầu hết được viết ra theo đúng đường lối chính trị và định hướng văn học dành cho văn nghệ sĩ sống dưới chế độ. Tuy thế, bên cạnh những bài thơ, những truyện thơ và mấy vở chèo phải đạo ấy, ông còn có một chuỗi thơ đặc sắc, bày tỏ lòng tha thiết thương nhớ người vợ trong nam và mấy bài thơ nói về những oan khuất, tàn tệ trong cuộc cải cách ruộng đất.
Lụy tình vẫn đeo đuổi người thơ không dứt. Nguyễn Bính ăn ở với nữ thư ký tờ Trăm Hoa, có một đứa con trai đặt tên là Hiền. Mẹ nó đi lấy chồng giao con lại; đi đâu cha con cũng quấn quít nhau. Bỗng dưng trong một cơn say, ông lỡ đem con cho một người qua đường, tại ngã sáu Bà Triệu, Hà Nội. Về nhà, quá nửa đêm, tỉnh rượu, mới nhớ ra chuyện, ông hốt hoảng đi tìm khắp nơi nhưng không bao giờ gặp lại người chẳng quen biết ấy.
Tới năm 1958, Nguyễn Bính túng thế phải quay về cư trú ở Nam Ðịnh, làm việc tại Ty Văn hóa Thông tin Nam Ðịnh, dưới sự kềm cặp của “nhà văn” Chu Tấn và quan chức địa phương. Nhà văn Ngọc Giao kể là “…Nguyễn Bính cảm thấy mệt mỏi, yếu đau… Anh sống với gia đình, coi như an phận. Chị Bính là người hiền hậu, nết na. Chị hằng ngày ra chợ Rồng, thu nhặt từng xu từng hào với mẹt bày quả chanh quả ớt. Chị tháo mồ hôi, phai tàn tuổi trẻ, làm sao cho hằng ngày có đủ rượu, đồ nhắm, bồi dưỡng cho ông chồng thơ.”
Ðể lại mùa xuân
Vào những ngày cuối năm Ất Tỵ, cảnh nhà Nguyễn Bính trống trơn trong khi xuân về rộn rịp đất trời; nhà thơ lửng thửng rời đất Vị Hoàng, đi tới một thôn xóm ven đô. Theo lời nhà văn Chu Tấn kể thì: “Nguyễn Bính có một chương trình khác. Cái máu giang hồ vặt lại nổi lên. Anh muốn tạo ra một mùa xuân tha hương nữa. Tha hương đây không phải là nơi cách trở ngàn dặm, mà là một làng ở ngay huyện Lý Nhân, ở đây có một anh bạn yêu thơ, nhà làm thuốc đông y. Hai vợ chồng ngõ ý mời từ lâu. Nguyễn Bính chọn ngày giáp Tết. Anh xắn cao quần, xông pha đường bùn đất, lặn lội tới chơi. Chủ nhà cảm động đến rơi nước mắt. Cái tết “tha hương” này hẳn là ấm cúng. Ngờ đâu…”
Nguyễn Bính cùng chủ khách lãng đãng nhắm rượi dưới gốc mai, đào. Cứ thế, sáng hôm sau (20/1/1966), đúng sáng ba mươi Tết Bính Ngọ — ông thức dậy ra cầu ao rửa mình. Một cơn gió bấc thổi đến. “Nguyễn Bính, thấy trời đất xoay tròn, anh chỉ kịp kêu một tiếng rồi cả thân mình đổ xấp xuống, mặt úp vào bùn nước, máu mủi rỉ ra. Anh vừa mổ dạ dày tháng trước. Có lẽ anh chết vì bục dạ dày” (Ngọc Giao). Năm ấy Nguyễn Bính 48 tuổi.
Ngôi mộ và nhà tưởng niệm
Thời điểm Nguyễn Bính từ giã cuộc đời, theo nhà văn Trần Lê Văn trong một bài tưởng niệm bạn hiền, thì ứng với bốn câu thơ ông để lại cho đời trong bài Nhạc Xuân, được viết vào 27 năm trước, trong tập Hương Cố Nhân:
Năm mới tháng giêng mồng một tết,
Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân.
và:
Giờ đây chín vạn bông trời nở,
Riêng có tình ta khép lại thôi.
Ngay sau khi Nguyễn Bính qua đời, người ta an táng ông ở nghĩa trang Nam Ðịnh như những người dân bình thường. Ba năm sau, ông được cải táng vào nghĩa địa Tam Ðiệp, cũng như những người dân bình thường khác.
Nhưng rồi thời thế thay đổi. Năm 1986, mở đầu “vận hội đổi mới”. Thơ Nguyễn Bính nhờ thế được tái bản khá đầy đủ, xào đi nấu lại trong nhiều tuyển tập, bán sạch gần cả trăm ngàn cuốn và các nhà phê bình đua nhau ca ngợi ông không tiếc lời. Chợt nhớ ra Nguyễn Bính là một nhà thơ lớn của dân tộc, người ta đưa hài cốt ông về chôn ở cồn đất rìa làng Thiện Vịnh, nằm cạnh ngôi mộ của ông nội ông, vì ngôi nhà cũ của cha mẹ ông bao lâu nay đã thuộc về người khác.
Cuối cùng, chính quyền phải đổi cho người chủ mới ấy một mảnh đất khác để ở, và thêm lần nữa, vào năm 1990, hài cốt Nguyễn Bính được dời, nay an nghỉ ở chính nơi ông cất tiếng khóc chào đời.
Theo nhà báo Vũ Hậu Luật kể thì: “Kể từ khi trút hơi thở cuối cùng đến nay (1990) đã đằng đẵng hai mươi nhăm năm trời, trải qua bốn chặng giang hồ, thi sĩ mới có một nơi yên nghỉ vĩnh hằng. Mộ xây giữa khu đất rộng bốn sào, nằm chính giữa làng Thiện Vịnh. Xung quanh rợp bóng tre, xoan, ruối và lô nhô vài ba đống rơm. Ngôi mộ đơn sơ hình chữ nhật, có đắp nổi hình ngọn bút với dòng chữ: ‘PHẦN MỘ NHÀ THƠ NGUYỄN BÍNH 1918-1966’. Hoa mười giờ nở đỏ dưới chân mộ chí. Người ta dự định xây dựng tại khu đất này, bên cạnh mộ, nhà lưu niệm trưng bày các di vật và tác phẩm của Nguyễn Bính.”
2. Tác phẩm của Nguyễn Bính
Không kể hàng chục tập thơ tuyển, lớn có nhỏ có, in gần đây từ nam chí bắc, do bởi nhu cầu thưởng ngoạn hoặc thương mại, về mặt chính thức, các tác phẩm của Nguyễn Bính gồm có:
Trước Tháng Tám 1945:
- Lỡ bước sang ngang (1940)
- Tâm hồn tôi (1940)
- Hương cố nhân (1941)
- Một nghìn cửa sổ (1941)
- Người con gái ở lầu hoa (1942)
- Mười hai bến nước (1942)
- Mây Tần (1942)
- Bóng giai nhân (kịch thơ – 1942)
- Tì bà Truyện (truyện thơ – 1944)
Sau Tháng Tám 1945:
- Ông lão mài gươm (1947)
- Ðồng Tháp Mười (1955)
- Trả ta về (1955)
- Gửi người vợ miền Nam (1955)
- Trông bóng cờ bay (truyện thơ – 1957)
- Nước giếng khơi (tập thơ chọn – 1957)
- Tiếng trống đêm xuân (truyện thơ – 1958)
- Tình nghĩa đôi ta (1960)
- Ðêm sao sáng (1962)
- Cô Son (chèo – 1961)
- Người lái đò sông Vỵ (chèo – 1964)
3. Bài thơ vẫn bị cấm: “Tỉnh giấc chiêm bao”
Chín năm đốt đuốc soi rừng,
Về đây ánh điện ngập ngừng bước chân.
Cửa xưa mành trúc còn ngăn,
Góc tường vẫn đọng trăng xuân thuở nào.
Làng xa bản nhỏ đèo cao,
Gió bay tà áo chiêm bao nửa chừng.
Anh về luyến núi, thương rừng,
Nhớ em đêm sáng một vùng Thủ đô.
Bồi hồi chuyện cũ năm xưa,
Gặp nhau lần cuối… trang thư lệ nhòa.
Thư rằng: “Thôi nhé đôi ta,
Tình sao không phụ mà ra phụ tình.
Duyên nhau đã dựng Trường đình,
Mẹ em đã xé tan tành gối thêu…”
Trăng khuya súng núi gươm đèo
Anh đi, thư vẫn nằm đeo bên mình.
Lửa sàn nét chữ chênh chênh,
Nếp thư đến rách chưa lành vết thương.
Ðằm đằm hoa sữa lên hương,
Chân anh đương bước giữa đường cái đây.
Nẻo hồ, song cửa, lá bay,
Sáng chưng bóng dáng bao ngày yêu xưa.
Trăm năm đã lỡ hẹn hò,
Cây đa bến cũ con đò còn không?
Tình cờ gặp giữa phố đông,
Em đi ríu rít tay chồng tay con.
Nét cười âu yếm môi son,
Áo bay nhắc buổi trăng tròn sánh vai…
Chín năm bão tối mưa ngày,
Nước non để có hôm nay sáng trời.
Em đi hạnh phúc hồng tươi,
Anh nhìn tận mắt cuộc đời đẹp sao!
Sắc hương muôn nẻo tuôn trào,
Tiếc mà chi giấc chiêm bao một mình.
Anh về viết lại thơ anh,
Ðể cho bến mát cây xanh đôi bờ.
Cho sông cho núi tự giờ,
Chẳng còn lỡ chuyện con đò sang ngang.
Lứa đôi những bức thư vàng,
Chẳng còn chữ chữ hàng hàng lệ rơi.
Chim hồng chim nhạn em ơi,
Trên nền gối cưới đời đời yêu nhau.
(Báo Trăm Hoa, Hà Nội, số 9.12. 1956)